Trang

Thứ Hai, 28 tháng 11, 2011

Trở lại bến quê


Bến quê náu khóm tre làng
Nhởn nhơ lau sậy mọc ngang giữa giòng
Rập rờn bèo lượn bìm giăng
Mấy hàng đá tảng xếp chồng ngủ yên

Về đây nao nức bới tìm
Bóng đời dĩ vãng bặt tin tháng ngày
Tuổi xuân đi lạc vào mây
Thu vàng về rủ nơi này gọi xưa
Gọi hè oi ả giấc trưa
Trẻ làng tắm mát suốt mùa nắng sôi
Gọi bàn tay mẹ tập bơi
Gọi bao kỷ niệm xa người chìm sâu

Lăng nhìn làn nước chảy mau
Mơ hồ tuế nguyệt cúi đầu qua sông
Thềm rêu chi chít dấu chân
Của ai lội giữa phù trầm hằn lên
Gió chiều say nắng thổi nghiêng
Cứ như đùn sóng vỗ riêng một bờ
Có tôi ngồi dựa bài thơ
Gieo vần hồi tưởng lên tờ thời gian

Ngoảnh nhìn muôn dặm quan san
Phong sương bạc áo phai tàn đẫm lưng
Về đây đội nón bâng khuâng
Nửa quen nửa lạ tương phùng mà đau
Thuyền bè xuôi ngược Ô Lâu
Ghé cho Văn Qũy chở sầu ra khơi
Câu hò chèo tới xa xôi
Bến làng ở lại theo đời đục trong

Ngắm chiều sà xuống trên sông
In vào mặt nước nỗi lòng trời mây
Ta như con bướm thôi bay
Đậu vào hoài cảm dâng đầy bến quê

Văn Quỹ, những ngày về với quê hương 2011

Chủ Nhật, 23 tháng 10, 2011

VỀ THĂM QUÊ



Chiều nay ta đón thu sang trên đường
cùng chuyến xe tìm về thăm cố hương
lòng hoa bướm xao buông rơi sầu nhớ
quay gót phiêu bồng dứt áo phong sương

Về đây lối xưa, sân đình cũ
mây trắng yên bình lơ lửng trôi
hàng tre đứng nghiêng reo làn gió
xanh với ngôi làng Văn Quỹ tôi

Nhẹ nâng nhánh hương trên đồng lúa
theo nắng lên đò qua bến trưa
bờ rêu ngắm Ô Lâu vờn sóng
xin khói lam về pha áng thơ

Chiều loang bên gối quê hương dịu hiền
gặp phút tương phùng lời ru dưới hiên
lặng nghe chiếc nôi đưa trong hồi ức
đất khách bao ngày ta trót lãng quên

Người em đan nón cho ai che đầu
mười ngón tay nàng thầm trao mấy câu
người đi xứ xa mau quay về nhé
Thơ với tâm tình Văn Quỹ tìm nhau

(Văn Quỹ – Thu 2011)

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2011

BA BÀI THƠ tặng Nguyễn Văn Đắc

ĐÓA HOA VĂN
(Quý tặng thi hữu Nguyễn Văn Đắc)


Hoa xưa
      giờ vẫn tràn
              hương đọng
Dưới bòng quê
      ươm những nụ đời
Anh thả ly tao
                vờn bến nắng
Giương cánh buồm thơ
                         nối dặm dài




ÔNG
(Mến tặng Nguyễn Văn Đắc)

Huơ chiếc gậy
                 chống lên thềm quá khứ
Còng tấm lưng
                 gánh vác ruộng đồng xưa
Ông nhìn
                 hoàng hôn thập thò bên cửa
Lặng lẽ cười
                 chờ đón
                         một đêm mưa


BÀ
(Mến tặng Nguyễn Văn Đắc)

Nhăn nheo bọc lấy tuổi già
Miếng trầu nhai dập tứa ra bọt bèo
Bà cầm chiếc quạt mốc meo
Gõ đầu con mực sủa chiều dưới chân


(Văn Quỹ, lập thu 2011)  

BA BÀI THƠ TẶNG NGUYỄN KHẮC PHƯỚC

CÀ-PHÊ
(Mến tặng Nguyễn Khắc Phước)

Cà-phê dỗ ngọt hủ đường
Để màu đen
           có dịp thơm tay người
Dụ lon sữa trắng cùng chơi
Giương hai con mắt cuộc đời nhìn ra.


CHIỀU TÀ
(Mến tặng Nguyễn Khắc Phước)

chiều
đi qua
nỗi bâng khuâng
tà huy
già cỗi
mệt dần chực rơi
trước sân
con vện sủa dài
sau vườn
khúc khích
tiếng cười hoàng hôn


VỀ QUÊ
(Mến tặng Nguyễn Khắc Phước)


Về quê ăn miếng cơm làng
Cảm ơn cây lúa vẫn cưu mang mình
Bao năm đất khách lênh đênh
Giờ ngồi bưng chén ân tình nở hoa
Hồi đi tuổi mới lên ba
Ngày về tóc đã muối pha trắng đầu
Tháng năm rơi rụng vào đâu
Để nay ngơ ngẩn bên cầu hoàng hôn
Muốn đem mưa nắng tha phương
Gieo vào cái chỗ đoạn trường trong ta.


(Văn Quỹ, cuối Hạ 2011) 






SAU CHUYẾN VỀ QUÊ

























Sau nhiều năm xa quê hương – Làng Văn Quỹ tỉnh Quảng Trị. Cuối hè vừa qua tôi có dịp trở về nơi chôn nhau cắt rốn. Trong những ngày ở đây được gặp một người bà con là anh Lê Đăng Mành nay sắp lục tuần, bị bệnh nặng tuy qua khỏi nhưng biến chứng làm điếc cả hai tai. Hơn mười năm qua nói chuyện với anh phải bút đàm. Trong nhà thấy treo nhiều bức thư pháp ký tên anh trông có hồn và khá đẹp, tôi hỏi thì anh trả lời là đã viết được 8 năm hầu hết tặng không cho bà con và bạn bè. Anh cho biết thêm nhờ duyên may được kết giao với một nghệ sĩ thư pháp tốt bụng ở Sài Gòn ra chơi, đó là ông Kiều Tiến (anh của nhạc sĩ tài danh Kiều Tấn (cũng ở Sài Gòn) thông cảm hoàn cảnh đã hướng dẫn anh vào môn thư pháp sau còn đưa anh đi Huế chữa bệnh hơn mười ngày, khi chia tay còn mua tặng cho bộ tứ bảo. Từ đó anh về nhà miệt mài viết thư pháp (hình như trong làng tôi đến nay anh vẫn là người duy nhất) anh còn là tác giả của rất nhiều bài thơ, một số đã gửi đăng trên các báo. Vì mang trong người di chứng của một căn bệnh lạ nên anh đậm người nhưng sức khỏe thì yếu, khi trở trời là bị hành ở não rất khó chịu vì vậy suốt ngày anh lui cui trong nhà chẳng đi đâu. Anh bảo tôi là anh đang sống lây lất. Quả thực tôi thấy anh như căn chòi giữa đồng luôn chống chọi với gió bão, tâm hồn trầm lắng như buổi chiều thu mây tím. Trong số các bài thơ của anh đã được viết thư pháp tôi thích nhất bài Vào Thu với những câu sau:

Heo may cõng giọt mưa ngâu
Dáng thu buồn tiễn hạ sầu từ ly
Đất trời vỗ nhịp phân kỳ
Cho cúc đơm nụ dậy thì với thu

Khi trở vào Nam tôi tìm gặp Nguyễn Bá Văn cũng là chỗ đồng hương Văn Quỹ tôi trình bày về hoàn cảnh và sự tài hoa của anh Lê Đăng Mành. Nguyễn Bá Văn cũng là một con người văn nghệ, cảm kích hoàn cảnh và yêu thích các tác phẩm thơ – thư pháp của anh nên bỏ công làm cho anh một trang (blog) thơ và thư pháp trên mạng: http://ledangmanh.blogspot.com/ mục đích giúp anh có điều kiện giải khuây cũng như để chia sẻ với bạn bè gần xa. Sau khi xem bài của anh trên blog tôi cũng rất lấy làm hân hoan thích thú và nhắn tin qua điện thoại ngay cho anh: - Anh Mành ơi! Từ nay đổi thời tiết được rồi nhé vì đóa sầu của anh đã có bướm đến vui chơi rồi.

(Ngãi Giao đầu thu 2011)